home-hoan chuong phat, xu ly nuoc, may lọc nuoc, xu ly cau can

Tin tức

Các sự cố lò hơi (nồi hơi) thường gặp và cách xử lý (Phần 2)

 

CÁC SỰ CỐ LÒ HƠI (NỒI HƠI) THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH XỬ LÝ

Lò hơi (nồi hơi) là một thiết bị được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Trong quá trình vận hành nồi hơi, có thể xảy ra

những sự cố không mong muốn. Sau đây là những sự cố có thể xảy ra và phương pháp xử lý với từng trường hợp cụ thể.



CÁC SỰ CỐ CÓ THỂ XẢY RA TRONG QUÁ TRÌNH VẬN HÀNH LÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ

STT Sự cố  Hiện tượng  Nguyên nhân  Xử lý
10 Cụm van cấp
nước bị hỏng

– Cụm van cấp nước gồm có 1 van chặn (hay còn gọi là van liên thông) và 1van 1 chiều (hay còn gọi là van triệt hồi), van 1 chiều lắp sát nồi hơi. Khi cụm van này bị hỏng thường gây ra hiện tượng hơi nước trong nồi rò trở lại bơm cấp nước qua hệ thống ống cấp nước, khi đường ống này nghỉ, 2 van đã đóng chặt nhưng vẫn thấy đường ống nóng bỏng.
– Khi nồi hơi làm việc
chung trong hệ thống cấp nước thì thấy mực nước của nồi hơi cứ dâng cao (mặc dù các van cấp nước đã đóng kín) khi các nồi hơi khác lấy nước, vì nước rò qua các van này vào nồi hơi đó.

– Cũng có khi thấy bơm nước không vào nồi hơi nước dù van liên thông đã mở hết mức.

– Trong qúa trình cụm van này làm việc nước chảy qua nắp đậy và bệ đỡ nắp của van, trong nước có mang theo các tạp chất, đất cát bào mòn nắp và bệ nắp van, vì vậy khi đã đóng hết mức cụm van vẫn không kín.
– Cũng có khi do nước lọc không kỹ, nắp đậy của van khi đóng xuống vướng phải những vật cứng như sỏi đá, làm vênh nắp van, đóng không kín.
– Nắp đóng tự động của van một chiều bị kẹt cứng không hạ xuống được (kẹt giữa trục van với lỗ giữ và hướng trục) nếu nước có thể rò qua nắp đậy của van một chiều được.

Nếu nắp đậy của van một chiều bị kẹt cứng không nâng lên được, thì mặc dù bơm chạy, van liên thông đã mở, nhưng nước không vào nồi hơi. Sự cố hỏng cụm van cấp nước, thường đưa tới những hậu qủa nghiêm trọng: Nếu bơm chạy van hỏng, nước không vào được thì dễ gây ra sự cố cạn nước nghiêm trọng mà không biết. Nếu bơm chạy, van đóng chặt (để lấy nước vào lò khác) mà nước vẫn vào lò hơi, thì dễ gây ra sự cố đầy nước quá mức mà không biết.ü Nếu lò hơi đang làm việc, van đóng chặt mà nước, hơi vẫn rò trở lại ống, bơm cấp nước, thì rất dễ gây hư hỏng cho bơm (vì làm cho nhiệt độ nước cấp quá 50 C, cánh bơm dãn nở có thể sát vỏ bơm) hoặc gây tai nạn bỏng cho công nhân chạy bơm khi gioăng đệm của bơm bị phá hoặc làm cho việc sửa chữa các đường ống nước, các van nước, các mặt bích nổ trước, gặp nhiều khó khăn và không an toàn.

– Nếu cụm van này bị xì, rò rỉ hơi nước nhẹ thì có thể tạm thời để cho nồi hơi đó làm việc đến kỳ sửa chữa gần nhất, nhưng không quá 1 tháng, đồng thời phải có biện pháp bảo vệ bơm cấp nước không bị hỏng do nước quá nóng, bằng cách thỉnh thoảng xả nước nóng đọng trong hệ thống ống cấp nước và trong bơm ra ngoài, khí phải sửa chữa những bộ phận của hệ thống đường ống hay bơm cấp nước, phải xả được hết nước còn lại trong ống ra ngoài mới tiến hành sửa chữa.
– Nếu cụm van này bị hỏng nặng, nước hơi rò ra rất mạnh hay ngược lại bơm nước không vào… nhất thiết phải ngừng lò sự cố.
11 Chảy đinh chì ở Balông – Chân đinh có hiện tượng chảy – Đinh chì có tác dụng bảo hiểm cho Balông (hay của ống lò) trong trường hợp cạn nước nghiêm trọng, trong trường hợp người công nhân vận hành. – Đối với nồi hơi có đinh chì bảo hiểm, việc chảy đinh chì là sự cố hết sức nghiêm trọng, làm giảm tuổi bền đáng kể của thiết bị.
– Trong trường hợp này phải báo cho thanh Tra ATLĐ đến lập biên bản, tổ chức điều tra sự cố, kiểm tra lại độ bền của nồi hơi, tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa mới được phép vận hành lại.
12 Ghi lò bị kẹt hay
cháy gẫy

Đối với ghi xích tự động, thường xảy ra những hiện tượng sau đây:
– Ghi lò đang chuyển động đột nhiên ngừng lại, phần ghi ở giữa lò bị nóng quá mức, nếu bị ngừng lâu có thể bị cháy phần ghi này và gây ra hiện tượng biến dạng ở các bộ phận khác của ghi lò.

– Ghi lò đang chuyển động bình thường đột nhiên chuyển động bất thường khi nhanh khi chậm lại cũng có khi ngừng lại một chút rồi lại chạy tiếp tục. Đối với ghi tinh thủ công. Thường xảy ra những hiện tượng sau đây:ü Hỏng ghi lật, ghi lắc (thường thấy trong các nồi hơi ống lửa, Bun – ga – ri, dầu xe lửa…) khi đã đánh lò xong lột hoặc lắc ghi cho xỉ tro rơi xuống gầm lò, lúc đóng lại mặt ghi không thăng bằng nữa, mặt ghi lò mặt các tấm ghi lật, ghi lắc có một khoảng trống, giò lùa mạnh vào ở vùng đó, than sẽ lọt xuống gầm lò qua khoảng trống đó. Hỏng ghi tĩnh – lò đang làm việc thấy sụt một khoảng than ở mặt ghi, thấy ghi cháy và than cháy dở rơi xuống gầm lò, cũng có khi chỉ thấy ghi lò biến dạng vòng xuống chưa gẫy và rơi hẳn xuống gầm lò.

– Nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng cháy, gẫy, kẹt ghi lò (các loại) là do sử dụng không khí trong buồng đốt không đúng quy định, cung cấp ít gió quá làm cho mặt dưới ghi không đúng quy định, cung cấp ít gió quá làm cho mặt dưới ghi không được làm mất kịp thời, bị nóng quá mức gây ra cháy,gẫy ghi, nếu mặt xích ghi rơi vào các bánh xe răng truyền động ghi xích thì gây ra kẹt ghi không chạy được nữa. Đối với các ghi lắc, ghi lật, ngoài nguyên nhân và nhiệt cũng có thể do nguyên nhân cơ khí gây ra như gẫy chốt hãm (cờ – ra – vet) trục quay ghi lật, ghi lắc, hay ổ chứa trục ghi bị mòn rộng quá khi đóng xuống ghi không vào đúng khớp cũ, bị kênh lên hay chưa tới mặt nằm ngang. Ngoài ra còn do những nguyên nhân sau đây: Dùng những gậy sắt, cào sắt quá nặng ném vào mặt ghi làm ghi vỡ, nứt. Chế tạo ghi lò bằng những gang quá xấu không chịu được nhiệt độ cao. Do khung đỡ mặt ghi bị hỏng làm sụt một phần gặt ghi hay một số thanh ghi. Đối với ghi xích
– Nếu một vài lá mặt ghi bị cháy gẫy mà không gây kẹt ghi, thì phủ thêm than lên mặt ghi (tăng khe hở của tấm điều chỉnh than), duy trì quạt gió đều và ở mức tương đối lớn, cho ghi chạy từ từ tới khi thấy chỗ hỏng ở cửa kiểm tra ghi lò, sẽ ngừng ghi lại, nhanh chóng thay các lá ghi bị hỏng tuyệt đối cấm tắt quạt gió ở gầm ghi khi ghi lò đang dừng lại, vì làm như vậy ghi lò sẽ bị nóng quá mức và để xảy ra sự cố nghiêm trọng trên toàn bộ mặt ghi lò. Nếu vì lý do nào đó ghi lò bị kết, thì cho ghi lò chạy ngược trở lại một đoạn 2m, sau đó lạcho lò chạy lại như chiều bình thường, nếu ghi lò chuyển động được thì chỉ cầxem kỹ mặt ghi nếu thấy cháy một vài lá ghi thì thay như vừa trình bày ở trên. Nếu ghi lò không chạy ngược ở lại đưhay trở lại được nhưng khi chạy xuôi qua chỗ ghi hỏng lại bị kẹt, nhất thiết phải ngừn g lò sự cố.Đối với ghi tĩnh đốt thủ công:
– Khi hỏng ghi lật, ghi lắc phải ngừng lò sự cố, để sửa chữa những ghi hỏng.
– Khi hỏng (gẫy, võng) những ghi tĩnh: tấm hay thanh có thể dùng các thanh sắt đánh lò, buộc các ghi mới bằng dây thừng đưa vào đúng nơi thaghi, dây cháy dớt, ghi sẽ nằm vào đúng vị trí thay thế cho ghi cháy hỏng. Những ghi đã võng xuống dù chưa hỏng gẫy hẳn cũng phải thay ghi khác như phương pháp vừa nêu trên. Chú ý: trong qúa trình thay ghi thủ công phải mở hết cửa hút gió ở gầm ghi, hạn chế mở cửa cho than, tuyệt đối cấm chạy quạt đẩy khi thay ghi.
13 Cường độ đốt
giảm
– Nhiên liệu đủ nhưng lửa không bốc – Thiếu gió cung cấp cho sự cháy.
– Nghẹt đường thoát khói
– Cấp thêm không khí cho buồng
đốt.
– Tăng lưu lượng hút khói.
– Điều chỉnh tỷ lệ nhiên liệu đốt cho
phù hợp
14 Sụt tường, cuốn lò, hỏng các phần bảo ôn trong lò – Khi tường, cuốn lò bị sụt thì nghe thấy tiếng động khác thường trong buồng lửa, đường mương dẫn khói, đồng thời thấy lửa khói lùa ra cửa cho than, tùy theo tường cuốn sụt nhiều hay ít, lửa sẽ lùa ra dài hay ngắn. Nếu tường cuốn lò bị sụt mà không phát hiện kịp thời có thể gây ra hiện tượng nứt tường lò nghiêm trọng, cháy đỏ những giá đỡ, khung lò hơi…
– Khi các phần bảo ôn bị hỏng, thì phải kiểm tra, bằng các cửa kiểm tra, có thể thấy các sợi amiăng cách nhiệt ở các góc tường lò, hay giữa tường lò với các mặt tiếp nhiệt bị tung ra, rơi võng xuống, hay thấy gạch, sợi amiăng bảo ôn các ống xả đáy nồi (nằm trong lò hơi) hay thấy gạch bảo ôn các giá đỡ nồi hơi bị rò, trong thấy các giá đỡ.

– Chủ yếu là do xây lắp không đúng quy cách: để mạch gạch qúa rộng (trên 3mm), vữa gạch chịu lửa chọn không đúng công thức, gạch định hình xây các cuốn lò không đúng hình dáng thiết kế cuốn lò…
– Do các vật chẳng giữ, dỡ tường, cuốn lò bị hỏng làm cho tường cuốn bị sụt.

– Do các bộ phận dãn nở trong nồi hơi không được tự do, bị các tường cuốn chèn đặt lại.
– Do gạch và các chất bảo ôn (amiăng sợi, amiăng tấm) đã quá cũ, bị ẩm nhiều lần khi sửa chữa, chưa được
thay vật liệu mới.

– Nếu tường cuốn lò các phần bảo ôn bị sụt ít, nhẹ, không làm lộ những khung, giá, bệ đỡ… bằng kim loại ra, đường lùa khói chạy và không có nguy cơ làm nứt tường lò phía ngoài, thì cho phép lò làm việc tiếp tục đến kỳ sửa chữa gần nhất, nhưng không quá 1 tháng.
– Nếu tường, cuốn lò, các phần bảo ôn bị sụt nhiều, nặng, làm cản trở việc thoát khói trong nồi hơi, làm cho các khung, giá, bệ đỡ của nồi hơi bị nóng đỏ, phải ngưng lò sự cố để sửa chữa.
15 Nhiệt độ nước cấp cao – Do sử dụng nước thu hồi to = 70 ÷ 80 C, nên khi đưa qua bộ phận hâm nước có thể nóng quá mức cho phép.
– Trong thời gian dài không cấp thêm nước cho nồi hơi.
– Điều chỉnh lưu lượng không khí nóng qua bộ hãm bằng cách mở to đường thoát khói trực tiếp.
– Cho nước trong bộ hâm hồi lưu trở lại bồn chứa trung gian.
– Điều chỉnh lưu lượng không khí nóng qua bộ hãm bằng cách mở to đường thoát khói trực tiếp.
– Cho nước trong bộ hâm hồi lưu trở lại bồn chứa trung gian.
16 Cháy nổ ở mương dẫn khói – Thấy cháy, đôi khi có tiếng nổ ở mương dẫn khói (từ nồi hơi ra ống khói), làm vỡ những màng bảo hiểm ở mương dẫn khói, bật tung các nắp đậy các hộp chứa tro (nặng 30 – 40kg) thậm chí, nếu cháy nổ lớn sẽ gây ra hoả hoạn tại đó.
– Thấy lửa khói phụt mạnh ra cửa cho than, có khi làm bật tung cả chốt hãm cửa cho than Sau đó toàn bộ nhà lò bị khói bụi phủ kín, việc cháy của nhiên liệu giảm dần, áp suất hơi tụt xuống.
– Do trong qúa trình đốt cháy, nhiên liệu chưa cháy hết, trong khói ra khỏi nồi hơi còn chứa một lượng khí CO và các khí cháy được khác khá nhiều, khi nhiệt độ khói đột ngột tăng cao (quá 250oC) và việc thoát gặp trở ngại, như bị tro lấp một phần thân ống khói hay trời mưa làm khói thoát ra khó… khi ấy ở mương khói sẽ xảy ra các phần cháy của các phần nhiên liệu còn lại và gây ra tiếng nổ, tuỳ theo tỷ lệ hỗn hợp các khí cháy và oxy các phản ứng đó gây ra tiếng nổ mạnh hay yếu. Khi nổ thể tích tăng, áp suất trên đường mương khói tăng sẽ gây ra những hiện tượng vừa nêu ở trên - Nếu nổ cháy nhỏ, không gây ra sụt đổ đường mương dẫn khói, không cản trở đến việc thoát khói… thì nhanh chóng tắt quạt gió, các cửa hút gió gầm ghi đóng chặt lại, đậy kín các nắp ở mương khói bị bật ra, tìm những tấm cách nhiệt, bịt vào các màng bảo vệ. Nếu gây cháy ra ngoài, phải sửa chữa ngay bằng các trang bị phòng hoả, khi lò đã trở lại bình thường thì mở từ từ quạt gió để kiểm tra, xem xét các hiện tượng, nếu không xảy ra vấn đề gì mới cho nồi hơi làm việc tiếp tục.
– Nếu cháy, nổ lớn, mương khói vỡ tung, nhất thiết phải ngừng lò sự cố và đề phòng hoả hoạn ở nhà lò.
17 Lưỡi lửa ngắn, có hiện tượng quạt trở lại (dội lửa)   – Lượng hút không đảm bảo hoặc quạt hút khói không hoạt động.
– Hệ thống đường ống hút bị tắc.
– Điều chỉnh lưu lượng hút cho phù hợp.
– Làm vệ sinh nếu đường hút bị tắc.
18 Quạt, bơm của lò hơi bị hỏng – Thường gặp nhất là khi ấn nút khởi động bơm, quạt không thấy bơm quạt chạy.
– Bơm quạt có chạy, nhưng không đủ nước, gió cung cấp cho nồi hơi.
– Bơm quạt chạy không bình thường: Tốc độ chậm, kêu to, nóng ở các gối đỡ trục (nhiệt độ quá 60oC)
– Ấn nút khởi động mà bơm, quạt không chạy là do: điện vào môtơ mất 1 pha, hay giữa phần quay (rôto) với phần tĩnh (stato) của môtơ điện sát nhau, hoặc cuộn dây của môtơ kéo bơm, quạt bị cháy do ầm quá trước khi chạy không kiểm tra độ cách điện.
– Bơm quạt có chạy, nhưng không đủ nước, gió cung cấp cho nồi hơi là do: cánh bơm quạt, bị hỏng: gẫy, mòn quá,… hoặc do tốc độ không đủ: trượt dây cu-roa.
– Phải cắt ngay điện, ngừng quạt, ngừng bơm lại, báo cho thợ điện, thợ cơ khí đến sửa chữa, tuyệt đối cấm đóng điện, chèn, lần hay lấy vật gì chèn các tiếp điểm chèn nút bấm khởi động thử các bơm dự phòng xem có làm việc tốt không để sẵn sàng cấp nước khi cần thiết.
– Ghi chú: Trong quá trình vận hành nồi hơi còn gặp những sự cố, những hư hỏng khác nữa, nhưng nó không phổ biến xảy ra trong các nồi hơi như sự cố “tụt” đanh chì, hỏng bộ sấy hơi, bộ hâm nước – nên ở đây không giới thiệu, mà đã nói ở các phần cấu tạo của các bộ phận đó.
19 Đường thoát khói nghẹt – Có hiên tượng khói phì ra cửa đốt, đặc biệt khi bật quạt lò và khi mở cửa lò, ống khói thoát yếu. – Do van gió trong đường ống bị bít lại, hoặc có vật lạ rơi vào gây nghẹt
đường ống.
– Vệ sinh định kỳ ống lửa, buồng lửa, buồng khói, đường thoát khói.
– Trong trường hợp bị tắc nghẹt, phải ngừng lò và làm vệ sinh.
20 Hiệu suất nồi hơi giảm – Lửa đốt ổn định mà áp sinh hơi của lò kém, đốt lò lâu tăng áp

– Do không vệ sinh thường xuyên ống lửa bị bẩn, muội bám.

- Do nước cấp không đảm bảo (nước có độ cúng cao, có cặn bẩn) dẫn đến đóng cặn trong lò.

– Tiến hành vệ sinh theo đúng quy trình, nếu có liên quan đến sủ dụng hóa chất thì phải do công nhân hiểu về hóa chất tiến hành.

 Chú ý
1. Mọi sự cố xảy ra và cách xử lý sự cố phải ghi chép đầy đủ vào sổ giao ca, báo cho cán bộ quản lý nhà lò, quản đốc phân xưởng.Nhà máy phải lập đoàn thanh tra xác định nguyên nhân đề ra biện pháp khắc phục
2. Các sự cố có ảnh hưởng tới độ bền của nồi hơi phải ghi vào lý lịch nồi hơi : nguyên nhân, cách xử lý, sau đó tiến hành kiểm tra lại độ bền của nồi hơi, có sự chứng kiến của thanh tra ATLĐ. Đối với các sự cố gây tai nạn lao động, làm chết người và hư hỏng tài sản, phải tiến hành các bước theo đúng quy định tại Chương XV – Quy phạm QPVN 23 – 81 về an toàn lao động đối với thiết bị chịu áp lực và nồi hơi do Nhà nước.

SẢN PHẨM LIÊN QUAN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TỪ TRƯỜNG CHỐNG CẶN THÁP GIẢI NHIỆT VÀ LÒ HƠI.

 ỨNG DỤNG LẮP ĐẶT THIẾT BỊ XỬ LÝ CÁU CẶN SCALE CLEAN

Mọi thông tin về tư vấn đặt hàng quý khách xin vui lòng liên hệ.

CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ THẢO CHƯƠNG PHÁT

Địa chỉ: 30/7, Đường ĐHT12, P.Đông Hưng Thuận, Quận12, TP.HCM     

MST: 0315464372

Website: www.thaochuongphat.com.vn

EMail: chuong.le@thaochuongphat.com.vn                                   

 

Hotline: 0901 655 868

    TOP
    0961 855 868